Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

Ứng dụng nhiều công nghệ cơ khí chế tạo mới

Chương trình cơ khí chế tạo KC.05/06-10 là chương trình KH – CN trọng điểm cấp Nhà nước. Trong quá trình thực hiện từ năm 2006 – 2010, chương trình đã đem lại những thành công ấn tượng. Nhiều đề tài nghiên cứu phát triển công nghệ cơ khí chế tạo đã được nghiệm thu và ứng dụng thực tiễn. Do đó, trong giai đoạn 2011 - 2020, ngành cơ khí chế tạo Việt Nam được xác định tiếp tục cần hiện đại hóa, trong đó lấy KH – CN làm trọng tâm.



Nhiều sản phẩm cơ khí chế tạo được áp dụng trong thực tiễn.
Qua 5 năm thực hiện, nhiều nhiệm vụ KH-CN đã được Ban chủ nhiệm tuyển chọn, đề xuất đưa vào chương trình như: nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các thiết bị cho Nhà máy nhiệt điện 600MW; trạm thủy điện 20MW; nhà máy xi măng 1 triệu tấn/năm; tàu chở dầu 100 ngàn tấn…

Hầu hết các sản phẩm của đề tài, dự án trong chương trình là sản phẩm mới có tính năng kỹ thuật, kiểu dáng và đều có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực như: máy vớt bèo, cắt rong, cỏ dại dưới nước; máy CNC sản xuất bê tông cốt thép kích thước lớn; hệ thống thiết bị sản xuất các tinh dầu, dầu gia vị; xe cần cẩu bánh xích 100 tấn; hệ thống thiết bị hàn tự động nối ống có đường kính lớn ở trạng thái không quay; máy cắt vật liệu cứng bằng tia nước áp lực cao điều khiển CNC; máy đo tọa độ 3D; máy dập cắt vật liệu điều khiển CNC trong ngành giầy dép...

Bên cạnh đó, chỉ tiêu về sở hữu trí tuệ, cho đến nay, 12% nhiệm vụ có giải pháp được công nhận sáng chế hoặc giải pháp hữu ích, 19% số nhiệm vụ đã được chấp nhận đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp. Chỉ tiêu về đào tạo: 50% số dự án, đề tài có tham gia đào tạo tiến sỹ hoặc thạc sỹ.

Nhìn chung, mặc dù còn 4 dự án, đề tài mới nghiệm thu cấp cơ sở và gần một nửa tổng số đề tài chưa kết thúc nhưng so với giai đoạn 2001 - 2005 thì các nhiệm vụ KH-CN của giai đoạn 2006 - 2010 có độ phức tạp và yêu cầu về trình độ KH-CN đòi hỏi cao hơn, vì vậy có 4 đề tài phải xin dừng thực hiện. Các đề tài còn lại đều hứa hẹn có kết quả tốt cả về giá trị KH-CN lẫn giá trị kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, tỷ lệ số dự án/tổng số đề tài-dự án của Chương trình KC.05.06-10 trong giai đoạn 2006 - 2010 (06/26; 23%) ít hơn Chương trình KC.05 của giai đoạn 2001 - 2005 (14/43; 33%). Nguyên nhân là do giai đoạn 2006 - 2010 đòi hỏi vốn đối ứng và các điều kiện tài chính ngặt nghèo hơn. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng không thiết tha chủ trì các dự án sản xuất vì độ rủi ro cao, thủ tục tuyển chọn, đấu thầu mua sắm vật tư, thiết bị phức tạp, không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và thị trường. trong khi đó, sự hỗ trợ của Nhà nước không đáng kể (hỗ trợ 30% và lại thu hồi 80% kinh phí cấp thực hiện).

Trong giai đoạn 2011 - 2020, cơ khí chế tạo được xác định giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Để khẳng định vai trò đó, ngành cơ khí chế tạo Việt Nam cần phải tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng KH-CN đảm bảo cho phát triển nhanh, bền vững.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực KH-CN trình độ cao, kiến thức hiện đại cho ngành cơ khí chế tạo Việt Nam bằng cách Nhà nước cử sinh viên, nghiên cứu sinh, công nhân kỹ thuật đi học nước ngoài một cách đồng bộ. Hỗ trợ doanh nghiệp kinh phí đào tạo đối với các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm mới. Tăng cường tiềm lực nghiên cứu phát triển (R&D) cho các doanh nghiệp cơ khí.

Đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư sản xuất và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực cơ khí chế tạo máy; tạo điều kiện cho các hội KH-CN ngành nghề có kinh phí để thẩm định thông tin, giúp đỡ, hoàn thiện các sáng kiến, sáng chế của nông dân, công nhân; khuyến khích các doanh nghiệp chủ trì các dự án sản xuất. Đẩy nhanh quá trình “tích tụ vốn” đối với doanh nghiệp cơ khí chế tạo Việt Nam; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả cơ sở sản xuất, cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH-CN ngành cơ khí chế tạo.

Theo baocongthuong.com.vn

robot Viet Nam

Năm 2010 đánh dấu cột mốc thành công ban đầu của nền khoa học chế tạo robot Việt Nam khi một doanh nghiệp Việt “đem... robot đi đánh xứ người” và gây được tiếng vang.

Linh hoạt trong vận hành, hoạt động tinh vi, nhanh và chuẩn xác, làm việc trong môi trường độc hại, có khả năng thay thế sức người... là những ưu điểm đáng giá từ robot. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu robot đang được đầu tư qua các đề tài nghiên cứu, qua cuộc thi ROBOCON được tổ chức hằng năm nhằm tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao giúp phát triển ngành công nghệ robot trong nước. Trưởng thành từ cuộc thi ROBOCON, Hồ Vĩnh Hoàng, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Robot TOSY (gọi tắt là TOSY), đã thành công khi đem robot “made in Vietnam” ra thế giới.

Robot “made in Vietnam”

Tại Triển lãm Tự động hóa lớn nhất thế giới Automatica diễn ra tại Đức vào tháng 6-2010, TOSY đã ra mắt robot biết đánh bóng bàn - TOPIO - và gây tiếng vang cho nền khoa học chế tạo robot Việt Nam. Ngoài TOPIO, TOSY còn ra mắt hơn chục mẫu robot công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt, TOPIO Dio - robot phục vụ nhỏ gọn - lần đầu tiên được giới thiệu, có thể vận hành mọi nơi nhờ một camera tích hợp và cảm ứng chướng ngại vật được đánh giá cao.

Khách tham quan bị thu hút bởi những chú robot “made in Vietnam”. Nhiều người đã tỏ ra ngạc nhiên vì Việt Nam còn yếu kém về khoa học chế tạo robot nhưng đã trình làng những robot có thiết kế và hiệu năng hoạt động ấn tượng. Ngay cả những “ông lớn” trong lĩnh vực chế tạo robot cũng bị bất ngờ trước những robot đến từ Việt Nam vì chúng có chất lượng không thua kém, trong khi giá chưa đến một nửa so với các mẫu robot cùng chức năng trên thị trường.

Yếu tố giá rẻ có được nhờ TOSY tự làm hết mọi khâu, từ ý tưởng, thiết kế đến kế hoạch sản xuất. Giá rẻ đã giúp TOSY ký kết hàng loạt hợp đồng, trong đó có những hợp đồng giá trị lớn. “Chế tạo thành công robot chất lượng cao mà chi phí thấp là rất khó nhưng để khách hàng tin tưởng vào robot mang thương hiệu Việt còn khó hơn” - anh Hồ Vĩnh Hoàng chia sẻ.

Cũng theo anh Hoàng, những robot do TOSY chế tạo đã phải vượt qua nhiều thử thách chất lượng để các đối tác lớn đến từ Mỹ, Nhật, Đức... nhận làm nhà phân phối.

Nhiều ưu thế

Ưu thế hàng đầu của robot “made in Vietnam” là chi phí sản xuất thấp. Điều này có được dựa trên chi phí nhân công thấp và quan trọng nhất là khả năng khép kín trong quá trình sản xuất của TOSY. Nhiều bộ phận quan trọng của robot như bộ điều khiển, kết cấu cơ khí, phần mềm quản lý, hộp giảm tốc... đều do TOSY tự nghiên cứu và sản xuất nên có giá cạnh tranh, đồng thời phải luôn bảo đảm chất lượng sản phẩm.

Sắp tới, TOSY đầu tư xây dựng các nhà máy như: Nhà máy đúc và luyện kim, nhà máy chế tạo động cơ, nhà máy lắp ráp mạch, nhà máy ép nhựa, nhà máy lắp ráp và thử nghiệm robot, trung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới... để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các đơn đặt hàng ngày càng tăng. “Không dừng lại ở robot công nghiệp, chúng tôi đang có tham vọng đẩy mạnh phát triển của công ty, đưa robot dịch vụ dáng người đến từng gia đình, góp phần thay đổi cuộc sống con người trong tương lai...” - anh Hoàng cho biết.

Nhà sáng chế robot 8X

Hồ Vĩnh Hoàng sinh năm 1981, từng là đội trưởng đội ROBOCON Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, giành ngôi vô địch cuộc thi ROBOCON năm 2003.




Hồ Vĩnh Hoàng và một robot do công ty của anh chế tạo. Ảnh: TOSY

Từ nhỏ Hoàng đã mày mò tự chế tạo các loại đồ chơi như canô, ô tô, súng... Đến nay, niềm say mê robot khiến anh vẫn thường xuyên thức trắng đêm để nghiên cứu một cơ cấu hay là một giải thuật điều khiển mới cho robot.

Thành công đầu tiên của Hoàng là chế tạo đĩa bay BOOMERAMA, tiền thân của đĩa bay TOSY, sau đó là robot biết đánh bóng bàn TOPIO rồi đến robot phục vụ nhỏ gọn TOPIO Dio... Những sản phẩm đó đã giúp tên tuổi TOSY vang xa.

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

Trường đại học Công nghiệp Hà Nội có 7 đội lọt vào chung kết Robocon toàn quốc

Ngày 10/04/2011, tại nhà thi đấu TDTT - Quận Tây Hồ - TP Hà Nội đã diễn ra những trận đấu cuối cùng của vòng loại cuộc thi Sáng Tạo Robot Việt Nam 2011 khu vực miền Bắc. 12 đội Nhất và 02 đội Nhì các bảng đã xuất sắc vượt qua các đối thủ, giành tấm vé vào vòng chung kết sẽ diễn ra tại TP. Đà Nẵng vào tháng 5/2011 tới.
Ở bảng C đội ALLIGATOR (ĐH Công nghiệp Hà Nội) đã sớm giành vị trí Nhất bảng khi có 3 trận thắng, trong đó một trận giành chiến thắng Loy Krathong. Buổi chiều tại bảng L đội CN-KTĐT 01 (ĐH Công nghiệp Hà Nội) có 2 trận giành chiến thắng Loy Krathong. Kết thúc vòng loại khu vực miền Bắc đội tuyển trường ĐH Công nghiệp Hà Nội có 7 đội Nhất các bảng dành tấm vé vào vòng chung kết toàn quốc, đó là các đội:

1. CN-KTĐT 03 ( Khoa ĐT) nhất Bảng A

2. ALLIGATOR ( Khoa Cơ khí) nhất Bảng C

3. TDTK ( Khoa Cơ khí) nhất Bảng E

4. VJC ( TT Việt Nhật) nhất Bảng F

5. VJC 2 ( Khoa Điện tử) nhất Bảng G

6. CN-KTĐT 01 ( Khoa Điện tử )nhất Bảng I

7. CĐT1-K4 ( Khoa Cơ khí) nhất Bảng J

14 đội đại diện khu vực phía Bắc tham gia vòng chung kết Robocon toàn quốc năm 2011 thuộc về các trường: Đại học Công nghiệp Hà Nôi (7 đội), Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Hưng Yên (5 đội), Học viện Phòng không Không quân (1 đội) và Đại học Sao đỏ (01 đội).

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2011

HƯỚNG DẪN LẮP GHÉP CÁC CHI TIẾT

1_ nhấn new chọn assembly.màn hình sẽ hiển thị môi trường lắp ghép các chi tiết. để lắp ghép chúng ta cần các chi tiết có sẵn (đã được thiết kế trên part ).
Môi trường làm việc như hình vẽ.

chọn brows để đưa các chi tiết cần lắp ghép vào.các bạn có thể tải các chi tiết vd này về để lắp ghép

http://www.mediafire.com/?elmwrgznz4z

.sau khi đưa chi tiết thứ nhất để đưa thêm các chi tiết khác vao ta dùng insert components
sau khi đưa tất cả các chi tiết vào (nên đưa trục vào trước).ta bắt đầu lắp ghép.

chú ý để lắp ghép các chi tiết ta chỉ sử dụng công cụ mate.xem hình dưới
B1: lắp then vào trục.sử dụng công cụ mate.cho các mặt tiếp xúc nhau như hình vẽ






ắp vòng bi tương tự như lắp bánh răng.chú ý ta copy vòng bi thành 1 vòng bi nữa để lắp trục bên kia bằng cách giữ Ctrl + giữ chuột trái vào vòng bi, đồng thời rê đến vị trí khác
sau đó ta lắp vòng bi sang đầu bên kia của trục

Video Tách Khuôn Trong Solidwork

Link http://www.meslab.org/mes/threads/22301-Video-huong-dan-tach-khuon-trong-Solidworks-?p=124736#post124736

sach co khi o to

TÀI LIỆU CỦA TÁC GIẢ LÊ VĂN HIẾU
BỐ CỤC:
Chương I: Hướng dẫn tháo máy
Chương II : Bảo trì sữa chữa các mối ghép cố định
Chương III: Bảo trì sửa chữa trục tâm và trục truyền
Chương IV: Bảo trì sửa chữa trục chính
Chương V: Bảo trì sửa chữa trục ổ
Chương VI: Bảo trì sửa chữa trục vít me vμ bộ truyền vít me - đai ốc
Chương VII: Bảo trì sửa chữa khớp nối, phanh
Chương VIII: Bảo trì sửa chữa trục bộ truyền đai, xích
Chương IX: Bảo trì sửa chữa bộ truyền bánh răng, bánh vít
Chương X: Bảo trì sửa chữa trục khuỷu, thanh truyền
Chương XI: Bảo trì sửa chữa băng máy, bàn dao, bàn máy, băng trượt
Tài liệu tham khảo
Link http://www.megaupload.com/?d=YBSGIKS0

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Sinh viên Đà Nẵng chế xe năng lượng mặt trời

Nhóm 3 sinh viên trường ĐH Bách khoa Đà Nẵng vừa chế tạo thành công chiếc xe năng lượng mặt trời SC4 . Xe thích hợp phục vụ du lịch ở Đà Nẵng hay phố cổ Hội An. Đã có 5 doanh nghiệp ngỏ ý muốn đầu tư vào loại xe này.








3D mẫu xe năng lượng mặt trời chạy trên đường Sơn Trà - Điện Ngọc (Đà Nẵng

Tạ Ngọc Thiên Bình, trưởng nhóm công trình nghiên cứu SC4 cho biết: “Ngồi cà phê cóc ở lề đường, thấy mấy bác đạp xích lô giữa trưa nắng nóng, mồ hôi nhễ nhại. Trong đầu em chợt nghĩ đến việc tại sao không “bắt” nắng phục vụ bác đạp xích lô mà để nắng “hành hạ” con người? Từ đó Bình cùng các bạn nghĩ ra ý tưởng sáng chế xe xích lô ba bánh chạy bằng năng lượng mặt trời”. Xe xích lô ba bánh chạy bằng năng lượng mặt trời, có thể giảm đến 70% lực của người đạp.

Nhưng khi nghiên cứu, nhóm sinh viên nhận thấy điện sử dụng xe xích lô có quy mô nhỏ nên bàn nhau chuyển qua ôtô. Tuy nhiên, xe chạy bằng năng lượng mặt trời có một điểm yếu là thời gian sạc pin rất lâu, khả năng vận hành liên tục và phạm vi hoạt động còn hạn chế nên nhóm đã kế thừa công nghệ chuyển đổi động cơ xe máy chạy bằng xăng sang chạy bằng các loại nhiên liệu khí (khí dầu mỏ hoá lỏng LPG, khí thiên nhiên NGV, khí biogas…) của GS.TSKH Bùi Văn Ga để tự thiết kế một bộ truyền lực.






Tạ Ngọc Thiên Bình, Huỳnh Kim Trạng cùng thầy hướng dẫn Dương Việt Dũng bên SC4.

Theo KS. Phạm Tài, Giám đốc Công ty Vận hành điện chiếu sáng công cộng Đà Nẵng, ưu điểm của loại xe này là không gây ra ô nhiễm môi trường; không tốn chi phí mua nhiên liệu như xăng mà chỉ tốn phí ban đầu và phí bảo dưỡng; thiết kế nhỏ gọn phù hợp với điều kiện giao thông tại Việt Nam.

SC4 rất thích hợp phục vụ du lịch ở Đà Nẵng hay phố cổ Hội An. Bởi khi Đà Nẵng đang xây dựng thành phố môi trường, còn Hội An cấm các loại xe có động cơ lưu thông trong phố cổ thì SC4 có thể đưa du khách tham quan, mua sắm rất thuận tiện.

Hiện tại các bãi biển và dọc các tuyến phố chính Bạch Đằng, Sơn Trà Điện Ngọc ở Đà Nẵng, xe năng lượng mặt trời SC4 đã được đặt thí điểm và chờ kinh phí đầu tư, hỗ trợ từ các doanh nghiệp để đưa vào sử dụng.

Theo bạn Phạm Nguyên Sơn, thành viên nhóm nghiên cứu, đã có ít nhất 5 doanh nghiệp nước ngoài ngỏ ý với nhóm nghiên cứu để được tài trợ đưa SC4 vào khai thác du lịch. Với khoảng 100 triệu đồng có thể hoàn thiện chiếc xe năng lượng mặt trời SC4 này

Trung tâm phay tiện tích hợp NTX2000

Mori Seiki bắt đầu tiếp nhận cung cấp cho các đơn hàng máy Trung tâm phay tiện tích hợp NTX2000 từ ngày 13/1/2011. Đây là một trong những mođen mới của dòng sản phẩm máy gia công X-class được phát triển nhắm đáp ứng những nhu cầu của ngànhsản xuất hiện đại, đặc biệt trong các ngành sản xuất hàng không, y tế và bán dẫn.

Các tính năng tiêu biểu có thể kể đến của dòng máy NTX2000 là:



(1) Máy trang bị các công nghệ nguồn hàng đầu của Mori Seiki: DDM (Direct Drive Motor), ORC (Octagonal Ram Construction) và BMT (Built-in Motor Turret), có khả năng gia công toàn bộ sản phẩm với độ chính xác cao.

(2) Năng suất cao: Máy có thể thực hiện quy trình gia công hết sức linh thoạt nhờ thiết kế 2 trục chính với thông số kỹ thuật và tính năng kỹ thuật tương tự nhau. Ngoài ra, máy có trục dao trang bị hệ truyền động tốc độ cao với tốc độ ăn dao tới 40m/phút; giúp tối đa hóa các năng suất gia công trong vùng không gian khoảng chống tâm 1,500mm của máy. Cấu trúc ORC hỗ trợ dịch chuyển của trục dao theo hướng trục Y, giúp giảm thiểu rụng động khi công gia công các chi tiết đòi hỏi công suất lớn. Trục dao cũng được tích hợp với động cơ công suất 18.5/11 kw (tương đượng động cơ của một trung tâm gia công trục chính chuẩn côn 40) do vậy trục dao có có thể đáp ứng được các yêu cầu gia công phay ở mức độ cao nhất.

(4) Chính xác cao: Nhằm loại bỏ sai số biến dạng nhiệt tại tâm trục, trục chính số 1 được thiết kế đảm bảo tâm trục có cùng vị trí ví với ụ máy (headstock). NTX2000 cũng sử dụng kiểu kết cấu hỗ trợ 3 điểm. Đây là kiểu kết cấu hiếm khi được sử dụng cho các hệ máy đa trục, tuy nhiên, điều này vẫn có thể được sự dụng nhờ vào sự cứng vững của thân máy NTX2000.

(5) Máy được trang bị hệ điều hành hiệu suất cao MAPPS IV. Đây là sụ kết hợp của phần mềm lập trình tự động và phần mềm CAM Esprit giúp cho máy có thể xử lý các bài toán lập trình gia công phức tạp và đáp ứng linh hoạt các nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, hệ điều hành này cũng giúp người sử dụng cũng có thể kiểm soát máy một cách an toàn nhất nhờ vào tính năng kiểm tra 3 D các khả năng va chạm giữa các trục, phôi, chấu mềm, dao cắt, chuôi dao và trạm dao.

(6) NTX2000 có tới 6 mođen để khách hàng lựa chọn đáp ứng các nhu cầu khác nhau. Tuy đây, được đánh giá là dòng máy "đa mục đích sử dụng", nhưng nhờ sự đa dạng của các mođen NTX2000 đáp ứng nhứng yêu cầu gia công đặc thù riêng, nên khách hàng hoàn toàn có thể sử dụng NTX2000 như một máy gia công chuyên dụng.

Tự động hóa đo và chuẩn tham số trên máy công cụ CNC

Đối với các máy gia công sử dụng điều khiển CNC, việc ứng dụng tính năng tự động thay đổi dao cụ để thay chuyển nguyên công cắt gọt đã trở thành phổ biến và mang lại hiệu quả to lớn.

SAI SỐ BÙ DAO CỤ TRONG GIA CÔNG TRÊN MÁY CNC



Đối với các máy gia công sử dụng điều khiển CNC, việc ứng dụng tính năng tự động thay đổi dao cụ để thay chuyển nguyên công cắt gọt đã trở thành phổ biến và mang lại hiệu quả to lớn. Quá trình thay đổi dao từ nguyên công này sang nguyên công khác làm phát sinh sai số gia công bởi nhiều yếu tố trong đó yếu tố quan trọng phải kể đến là việc xác định và thiết lập tham số bù kích thước hình học giữa các dao luôn có sai số nhất định, đặc biệt khi quá trình cài đặt tham số bù dao được tiến hành một cách thủ công và phụ thuộc chủ yếu vào sự chính xác trong thao tác của người vận hành. Bên cạnh đó độ mòn dao trong phạm vi cho phép không được bù kịp thời cũng làm gia tăng sai số gia công. Ngoài yếu tố về sai số kích thước gia công, quá trình xác định lượng bù dao cũng mất nhiều thời gian do đó làm giảm năng suất máy.

TRANG BỊ HỆ THỐNG ĐO DAO TỰ ĐỘNG – SỰ TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH GIA CÔNG

Để khắc phục hạn chế phương pháp đo dao thủ công với thiết bị đi kèm cồng kềnh và kém hiệu quả, hiện nay nhiều hãng sản xuất đã phát triển và trang bị thêm tính năng đo dao tự động trên máy, tuy nhiên những người biết và ứng dụng tính năng này vẫn còn nhiều hạn chế. Thay vì đo dao bằng phương pháp thủ công, một thiết bị đầu đo có độ chính xác cao được gắn sẵn trên bàn máy (máy phay CNC) hoặc trên vách máy (máy tiện CNC). Với mỗi dao cần xác định lượng bù thông số hình học, người vận hành chỉ cần một vài thao tác nhỏ hoặc lập trình một câu lệnh điều khiển tương ứng và toàn bộ thông số cần thiết sẽ được xác định và cập nhật vào hệ thống một cách tự động đảm bảo độ chính xác. Quá trình này có thể được thực hiện ngay cả khi máy đang gia công theo một chương trình.

Như vậy thay vì đo dao thủ công rồi cài đặt vào hệ thống, người sử dụng chỉ cần sử dụng chức năng đo-cài đặt tự động hoặc lập trình bằng câu lệnh điều khiển thậm chí ngay cả khi đang ở chế độ gia công mà không phải dừng máy, dữ liệu bù dao cũng được xác lập trên cơ sở hệ tọa độ làm việc nên rất thuận tiện cho lập trình gia công. Hệ thống đo dao tự động sử dụng đầu do với độ chính xác cao được phát triển với khả năng tương thích với các bộ điều khiển thông dụng hiện nay, dễ dàng và hiệu quả trong sử dụng. Một số ưu điểm nổi bật:

- Tiết kiệm thời gian. Theo khảo sát thực tế đã cho thấy giảm bớt tới 90% thời gian cho việc đo dao

- Khả năng lập trình tự động bù sai số dao trong quá trình gia công.

- Độ chính xác cao, loại trừ được sai số khi thao tác so dao bằng phương pháp thủ công.

- Khả năng lập trình nhận biết được gãy dao trong quá trình gia công và tự động dừng máy.

MÔ TẢ HỆ THỐNG SỬ DỤNG TRÊN MÁY PHAY CNC.

Hệ thống đo dao tự động bao gồm phần cứng là một đầu cảm biến tiếp xúc cùng bộ phận chuyển đổi tín hiệu và phần mềm vận hành. Toàn bộ hệ thống có thể lắp đặt và tương thích với các máy CNC sử dụng các bộ điều khiển sau: Fadal CNC88/32MP, FANUC 6-M / 10-M/ 11-M/ 12-M/ 15M/ 16M/ 18M/OM Meldas, Mazak,Sinumerik802 / 810 / 840 …

Đầu đo sử dụng cảm biến tiếp xúc.
Đầu đo được lắp đặt cố định ở vị trí thuận lợi trên bàn máy (thường là góc bàn máy, vùng không sử dụng đến khi gia công). Đầu đo có tác dụng nhận tín hiệu tiếp xúc từ dụng cụ và gửi tín hiệu về bộ điều khiển. Từ tín hiệu tiếp xúc, bộ điều khiển tự động tính toán và cài đặt giá trị tham số dao cụ theo chương trình cài đặt sẵn. Các thông số cơ bản của đầu đo tiếp xúc:

Hướng tiếp xúc

Thông thường lắp đặt hướng tiếp xúc theo chiều ± X, ± Y và -Z

Độ chính xác lặp lại theo một hướng

1µm

Lực tiếp xúc

1.3N ~ 2.4N

Khoảng dao động của đầu tiếp xúc

XY=±100, Z=5.5mm

Nhiệt độ vận hành

+5oC ~ 60 oC

Vật liệu/Kích thước đầu tiếp xúc

Tungsten Carbide/Ø12.7x8mm

Kiểu truyền dữ liệu

Dây cáp tín hiệu/Hồng ngoại

Khối lượng

650g

- Bộ chuyển đổi tín hiệu: có tác dụng nhận tín hiệu tiếp xúc giữa dụng cụ và đầu đo, chuyển đổi về dạng tín hiệu tiêu chuẩn và đưa về bộ điều khiển.




Hệ thống đo cho Trung tâm gia công phay
Các thông số cơ bản:

Điện áp nguồn cấp

15~30V dc

Điện áp nguồn xung

16,5~28,5V, biên độ3V/100Hz

Dòng điện nguồn

50mA

Cầu chì bảo vệ

80mA

Ngõ vào (đầu cảm biến tiếp xúc)

Thường đóng/thường mở

Ngõ ra

50mA/±50V

Nhiệt độ vận hành

50C~500C

- Phần mềm vận hành và cách thức sử dụng:
Phần mềm vận hành bao gồm các tham số hệ thống và các chương trình ở dạng macro được cài đặt đồng bộ vào hệ điều khiển, đảm bảo tính đơn giản và thuận tiện cho người vận hành. Các chức năng của hệ thống như kiểm chuẩn đầu đo, đo chiều dài/đường kính dao, bù dao theo độ mòn/nhiệt độ, xác định gãy dao đều được thực hiện bằng cách gọi các lệnh tương ứng.

Ví dụ:

G65 P9857 B3. D31 J.01 K.008 T1 Z10. ; Đo kích thước cho dao T1.
G65 P9858H.1 ; Kiểm tra điều kiện gãy dao của dao hiện tại.
………………………..

MÔ TẢ HỆ THỐNG SỬ DỤNG TRÊN MÁY TIỆN CNC:

Tương tự như hệ thống sử dụng trên các máy phay CNC, khả năng lắp đặt tương thích trên hầu hết các máy tiện sử dụng hệ điều khiển thông dụng như FANUC 6-T/10-T/ 11-T/ 12-T/ 15-T/ 16T/ 18T/ 21T/O-T, FAGO, MITSUBISHI, SINUMERIK…..

Một hệ thống điển hình thường được sử dụng theo sơ đồ sau:




Khi máy ở trạng thái hoạt động gia công, tay đo được kéo thu về vị trí an toàn và đầu đo được bảo vệ trong vỏ che kín đảm bảo tránh nước, phoi và bụi bẩn. Khi thực hiện đo dao, bàn máy di chuyển về vị trí an toàn đồng thời tay đo quay trên đế xoay của nó tới vị trí làm việc. Bàn máy di chuyển mang mũi dao cụ cần đo tới vị trí liền kề đầu tiếp xúc và thực hiện tiếp xúc dao theo hướng các trục tọa độ của máy. Tại mỗi vị trí tiếp xúc, đầu đo chuyển tín hiệu về bộ điều khiển để tính toán các giá trị cần thiết và cài đặt vào hệ thống. Kết thúc quá trình đo dao, bàn máy và tay đo được đưa về vị trí an toàn. Quá trình nâng hạ tay đo có thể thực hiện bằng tay hoặc tự động (đối với loại được trang bị động cơ).

Cũng giống như hệ thống trên máy phay CNC, quá trình đo dao có thể thực hiện bằng thao tác tay đơn giản hoặc bằng các lệnh điều khiển tự động. Các thông số kỹ thuật đặc trưng của hệ thống

Đặc trưng hệ thống

Ứng dụng

Trên máy tiện CNC

Hướng tiếp xúc

Trên đầu đo

±X, ±Y, ±Z

Trên máy

±X, ±Z, +Y

Độ chính xác (ở tốc độ 36mm/phút)

Loại cho mâm cặp 6~15inch

5 µm 2 σ X/Z

Loại cho mâm cặp 18~24inch

8 µm 2 σ X/Z

Kiểu bảo vệ đầu đo

IPX8 (cố định)

Nhiệt độ vận hành

5oC ~ 60oC

Nhiệt độ bảo quản

-10oC ~ 70oC

Góc quay tay đo

90o

Đặc trưng đầu tiếp xúc

Lực tiếp xúc đầu đo theo các hướng

Hướng theo mặt phẳng XZ

3.5N theo hướng lực lớn

1.5N theo hướng lực nhỏ

Hướng trục Y

12N

Hành trình đầu tiếp xúc

Hướng trục X

9o

Hướng trục Y

9o

Hướng trục Z

2mm

Tùy theo yêu cầu và điều kiện lắp đặt cụ thể trên từng máy, người sử dụng có thể lựa chọn các cấu hình khác nhau cho tay đo:






Hệ thống đo trên Trung tâm tiện (Loại tay đó có thể tháo rời và loại tay đo gắn cố định)

- Loại tay đo có thể tháo rời: có đặc điểm là khả năng tháo rời và chỉ được gắn lên máy khi thực hiện đo dao. Ưu điểm của loại tay đo này là kết cấu đơn giản, chiếm ít không gian vì có thể tháo rời. Ngoài ra còn tránh được các điều kiện xấu trong quá trình gia công. Tuy nhiên có nhược điểm là độ chính xác thấp hơn và mất thời gian tháo lắp. Loại này thích hợp cho những máy có không gian nhỏ hẹp.

- Loại tay đo sử dụng đế xoay thông thường: tay đo và đế xoay được gắn trên vách máy (gần vị trí mâm cặp). Khi đo dao, dùng tay kéo ngả tay đo xuống vị trí thấp nhất. Trước khi gia công, kéo tay đo về vị trí an toàn và đầu đo được đặt trong một vỏ che kín đảm bảo tránh tiếp xúc nước, phoi và bụi bẩn. Loại này có ưu điểm cho độ chính xác cao, thời gian thao tác nhanh. Tuy nhiên so với loại tay đo có thể tháo rời thì loại này chiếm nhiều vị trí không gian hơn, chỉ có thể gá lắp trên những máy còn đủ không gian trống.

- Loại tay đo có trang bị động cơ: đây là loại có tính năng hoàn thiện nhất và cho độ chính xác cao nhất. Cũng giống như loại tay đo đế xoay thông thường nhưng ở trong đế xoay được lắp đặt một động cơ và hệ dẫn động để điều khiển quá trình thu và ngả tay đo.

Đặc điểm nổi bật của hệ tay đo này là khả năng tự động hóa hoàn toàn một quá trình đo và khả năng lập trình phát hiện mòn hoặc vỡ dao, ngay cả khi máy đang thực hiện gia công sản phẩm. Loại tay đo này thích hợp lắp trên các máy có đủ không gian trống, gia công sản phẩm ngắn, số lượng lớn đòi hỏi thường xuyên đo và bù dao.

Hệ thống đo

Bộ điều khiển

Giá (USD)

Hệ thống đo kích thước dao theo 3 chiều cho trung tâm gia công phay (hình 1)

SIEMENS 802S (C, D,Dsl)

3,200.00

FANUC: các model OM, OMi, 18-21M(i), 10M-15M

3,500.00

FANUC 30-32Mi, MELDAS M60/M70

3,700.00

Hệ thống đo (bán kính và chiều dài dao) cho trung tâm gia công tiện, loại tháo rời (sơ đồ 3)

FANUC OT, OTi, 16-21T(i), 160~210T(i),

4.300,00

Hệ thống đo (đo bán kính và chiều dài dao) cho trung tâm gia công tiện, loại gắn cố định, nâng hạ bằng tay (sơ đồ 4)

Hệ thống tay đo (bán kính và chiều dài dao) cho trung tâm gia công tiện, loại gắn cố định, nâng hạ tự động (sơ đồ 4)

Ghi chú:

- Thiết bị phần cứng và phần mềm nhập khẩu mới 100%, xuất xứ từ Anh.

- Giá ở trên đã bao gồm cả lắp đặt tích hợp vào hệ thống, đào tạo hướng dẫn sử dụng và chưa bao gồm thuế VAT. Đối với các máy không có thiết kế dự phòng cho trang bị tính năng này, mức giá có thể thay đổi.

- Bảo hành phần cứng thiết bị và phần mềm 01 năm theo tiêu chuẩn nhà sản xuất, hỗ trợ bảo trì miễn phí phần mềm không thời hạn.

Để có thêm thông tin, quý khách vui lòng liên hệ:

Công ty CP Dịch vụ kỹ thuật CIM

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Hướng Dẫn Cài Đặt MasterCam

Sau khi down được setup về rồi. Chúng ta cài tương tự như đối với các Version MasterCam trước nhưng lưu ý những điểm sau.
Trong khi cài đặt:
- Chọn thẻ NetHASP thay vì HASP như các Version trước.
- Chọn đơn vị mặc định thì có thể metric hoặc Inch( tùy bạn nhưng khuyến khích là metric vì mình là người Việt mà)
Khi đã cài đặt hoàn tất, tới phần Crackkk. Các bạn làm theo hướng dẫn của mình như sau:
- Chạy file MasterCAM Dealer.reg ( có sẵn trong file crackkk mình gửi kèm dưới đây) đơn giản bằng cách kích đúp vào đó và OK.( Đối với win7 thì thêm một lần OK nữa, khi nào thấy chữ add registry succesfull là OK)
- Tiếp theo chúng ta cài đặt Driver HASP bằng cách chạy file install. bat trong forder USB Emulator\Win32( có sẵn trong file crackkk)
lưu ý ở bước này là phải chờ một chút để nó cài thêm driver usb. Khi nào thấy máy báo driver already to use thì có nghĩa là đã xong và thực hiện bước tiếp theo.
- Copy file MasterCam.exe ( có sẵn trong file crakkkk) vào thư mục Setup ( thường là C\McamX4 nếu trong quá trình cài đặt các bạn để mặc định các forder).
- Sau đó Restart lại máy cho nó nhận driver vừa cài.
- Bước tiếp theo là chúng ta vào thư mục cài đặt ( mặc định là C\McamX4 ) chạy file NHaspX ( màu đỏ) ( Đối với win7 thì chạy bằng cách kích chuột phải chọn Run as Adminitrator ---- Đối với win XP thì kích đúp bình thường)
- Sau khi chạy file NHaspX xuất hiện 1 cái bảng như hình. Các bạn chọn các mục như hình.


Tại chỗ SIM type, bạn chọn NetHASP; tại chỗ Mod, bạn chọn Local, sau đó bấm nút Read rồi bấm OK là được.
--- Nhiều trường hợp trong khi cài đặt HASP chưa thấy máy báo driver already to use đã thực hiện bước tiếp theo thì tới bước này bảng hiện ra sẽ không có gì cả( bảng trống). Nếu các bạn gặp trường hợp như vậy thì cứ bình tĩnh cài lại HASP. và thực hiện các bước tiếp theo.
Sau đây là một số hình ảnh của MasterCamX4 :





Và đây là điểm mới của Version X4: Đã xuất hiện từ 5 axis.
Hiện tại em chưa có thời gian ngâm cứu kĩ cái này. Các bác nghiên cứu rồi chỉ em với nhá.